Một người anh tôi rất yêu quý. Tôi biết anh từ lâu, nhưng chỉ được gần gũi anh từ 1996, khi về làm trình bày mỹ thuật cho báo Văn Nghệ Trẻ mà anh làm trưởng ban. Đó là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.
Ban dầu, quan hệ tôi với anh là công việc thuần túy, cảm giác thích thú nhất là được làm việc với một người đầy tài năng. Nhưng gần anh thì thấy rất nhiều thứ anh không dạy mà vẫn học được. Nhiều phẩm chất không dễ nằm trong một con người. Anh Thiều không chỉ là thủ trưởng cơ quan mà còn là một người anh đáng kính trọng.
Khác với vẻ ngoài dữ tướng, Nguyễn Quang Thiều là một người tình cảm. Anh là người của quê hương, của làng Chùa. Làng Chùa trong thơ như một khúc ca buồn:
“…Tôi hát bài hát về cố hương tôi
Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó
Nó không tiêu tan
Nó thành con giun đất
Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao
Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ
Bò qua bãi tha ma người làng chết đói
Đất đùn lên máu chảy dòng dòng…”
(Bài hát về cố hương – Nguyễn Quang Thiều)
Anh Thiều có khả năng thôi miên người nghe bằng những ngôn từ nhiều tầng lấp lánh. Anh nói về văn chương, thi ca, về văn hóa, về món ăn quê và nhiều kỷ niệm dở khóc dở cười. Bất kể điều gì dù xù xì đến đâu, qua ngôn ngữ Nguyễn Quang Thiều đều trở nên tỏa sáng và ám ảnh.
Trong số những điều anh kể, mình nhớ nhất chuyện anh về thăm quê nhà thơ Nguyễn Duy. Căn nhà của Nguyễn Duy có lẽ giống như thơ ông đã viết trong bài Cầu Bố:
“… Nhà tôi đó không cổng và không cửa
ai ghé qua cứ việc hút thuốc lào
cha tôi chạm rất nhiều cửa sổ
gió nồm nam cứ thoải mái ra vào…”
Về đến làng, vào đến căn nhà vách liếp sơ sài, Nguyễn Duy gọi ai đó. Không một tiếng đáp lại. Căn nhà tuềnh toàng chỉ có gió hú miên man.
Tự nhiên, Nguyễn Quang Thiều giật mình thảng thốt một sự sợ hãi mơ hồ. Anh chợt nghĩ, một ngày nào đó, mình về quê, cũng gọi mà không nghe thấy ai trả lời. Không có tiếng mẹ, không có tiếng cha. Vẫn biết điều đó chưa xảy ra. Nhưng ai mà biết được.
Nỗi lo sợ của anh thực sự là một cơn sốc và nó làm cho suy nghĩ của anh như lật sang một trang khác.
Sau chuyến đi ấy, anh Thiều nói với những người ruột thịt sự giật mình đó và chốt lại rằng: Bố mẹ đã trên bảy mươi tuổi rồi. Người trên bảy mươi không bao giờ sai được.
Nghe chuyện, mình hiểu rằng, anh Thiều tất nhiên không nói rằng người già là không nhầm lẫn. Mà điều anh muốn nói với các anh em, con, các cháu là đừng đòi hỏi bố – mẹ – ông – bà phải thay đổi thế này thế khác cho hợp ý mình. Đó là gì nếu không phải là sự ích kỷ của con cháu.
Quỹ sống của cha mẹ như bóng câu qua cửa sổ. Mình phải tôn trọng, yêu thương tất cả những gì của bố mẹ, cho dù mình vừa ý hay không vừa ý.
Điều này có lẽ ai cũng hiểu ít nhiều, thậm chí hiểu rõ. Nhưng hiểu và ngộ là hai trạng thái khác nhau. Cái giật mình lo sợ của anh Thiều là sự ngộ. Trong đời người chắc ai cũng có vài lần ngộ mà thôi. Chỉ có người u mê lắm mới không ngộ lần nào trong đời.
Qua tiếp xúc, mình thấy anh là người con rất mực hiếu thảo và là niềm tự hào của hai cụ. Mỗi lần về quê anh, nhìn cách anh chuyện trò, chăm sóc hai cụ, mình thấy cảm động. Anh vẫn kể với mình rằng bố anh đã dạy anh điều này , mẹ anh đã dạy anh điều kia, bao nhiêu năm không thể phai nhạt được.
“… Thuở tôi vừa sinh ra
Mẹ đã đặt ngọn đèn trước mặt tôi
Để tôi nhìn mặt đèn mà biết buồn, biết yêu và biết khóc…”
(Bài hát về cố hương – Nguyễn Quang Thiều)
Là một nhà thơ nhưng anh Thiều “cày cuốc” với cường độ kinh khủng. Cả trái đất, không ai sống được bằng tiền in thơ. Anh viết báo rất nhiều, viết kịch bản phim, rồi nhận khoán làm tổ chức từ A đến Z cho những đặc san hàng tháng. Anh không chỉ là người chăm lo cho nghiệp viết mà vẫn làm mọi cách để chu cấp cho người thân. Trong đó, bố mẹ anh được chăm sóc một cách tận tụy.
Có một thời gian dài, anh “cày” khá nhiều việc để có tiền. Có bao nhiêu hết sạch bấy nhiêu. Mình hỏi thì anh bảo: Tôi đang cần tiền để thuốc thang cho hai cụ. Mỗi tháng cần chừng này chừng này triệu mới tạm đủ. Thuốc điều trị đắt kinh khủng. Mà anh luôn mua loại tốt nhất có thể…
Từ câu chuyện mới biết cả hai cụ bị ung thư rất gay go. Từ đó, bọn mình chăm về quê thăm hai cụ hơn. Hy vọng thời gian sẽ kéo dài.
Rồi nỗi đau được báo trước đã xảy ra. Nhưng là hai nỗi đau liên tiếp. Anh Thiều phải chịu tang cả cha và mẹ trong cùng một năm. Cùng một năm, anh và người thân phải hai lần chít khăn trắng đi trên cánh đồng ấy, thả nắm đất xuống huyệt trên cánh đồng ấy. Sự lo sợ của anh khi đến thăm nhà Nguyễn Duy đã quay về với chính anh. Bây giờ, về Làng Chùa – Sơn Công – Ứng Hòa, anh không thể gọi được cha mẹ nữa. Anh chỉ có thể thủ thỉ với cha mẹ qua những nén hương thơm trên mộ mà thôi.
Sự chăm sóc cha mẹ của anh Thiều là một sự chăm sóc nhẫn nại, sùng kính và vội vã và kiệt sức. Anh đã gắng sức chạy đua với thời gian giành giật lại sự sống của cha mẹ. Anh đã thắng thần chết một thời gian dài. Tình yêu thương của anh chắc chắn làm cho cha mẹ mãn nguyện.
Câu chuyện của anh cũng làm những người cha mẹ còn khỏe mạnh phải suy nghĩ. Đừng hứa hẹn những tương lai viển vông, với hoạch định tầm nhìn cuộc sống quá xa xôi. Tình yêu phải luôn luôn tràn đầy ở bất kỳ khoảnh khắc nào, nó phải có trong mọi hơi thở.
Nghĩ đến nỗi đau của anh Thiều, mình lại lan man nhớ lại một đoạn thơ của Nguyễn Duy thương nhớ bà ngoại trong bài Đò Lèn:
“… Tôi trong suốt giữa hai bờ hư – thực
giữa bà tôi và tiên phật thánh thần
cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm.
Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
Thánh với Phật rủ nhau bay đi hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn!
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!”
Không ai đuổi kịp những gì đã mất. Kết bài thơ “Bài hát về cố hương”, Nguyễn Quang Thiều viết.
“… tôi hát bài ca về cố hương tôi
Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm
Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó
Kiếp này tôi là người
Kiếp sau phải là vật
Tôi xin ở kiếp sau là một con chó nhỏ
Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi.”
Chỉ có một thứ không bao giờ đủ trên đời này, đó là tình yêu thương. Tình yêu thương luôn nói với tất cả rằng: Cuộc sống này quá mong manh. Tình yêu thương phải luôn vội vã.
NLT 25 – 5 – 2011


